Banner trang trong mặc định
Trang chủ >Tư liệu giáo dục>Bài viết về giáo dục
Tư liệu giáo dục
banner quang cao

Bài viết về giáo dục

Ngày đưa tin: (13/03/2014)
Một trong những phẩm chất tâm lí rất quan trọng của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là  tính tích cực nhận thức. Qua nghiên cứu vấn đề này của trẻ trong trò chơi phân vai có chủ đề cho thấy trẻ bộc lộ khá rõ tích tích cực nhận thức nhưng chủ yếu chỉ ở mức trung bình. Trong đó, tiêu chí liên quan đến sự yêu thích và thái độ khi chơi đạt mức khá hơn, còn những tiêu chí liên quan đến kĩ năng chơi có sự hạn chế.
Bài viết nghiên cứu khảo sát về câu nghi vấn chính danh và không chính danh ở tình huống giao tiếp trong lớp học. Cách dùng câu nghi vấn trong hành động hỏi để đạt được mục đích giao tiếp trên bình diện ngữ dụng học là vấn đề mà tác giả bài viết hướng đến nhằm đề xuất một chiến lược nêu câu hỏi hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường hiện nay.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức trong thế kỉ XXI đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới nội dung dạy học và phương pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học phải hướng tới những phương pháp dạy học nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập nhằm đào tạo ra những con người năng động, độc lập trong xã hội. Tự định hướng học tập là một phương pháp dạy học theo quan điểm hướng vào người học, tạo cho sinh viên những phẩm chất như tích cực, chủ động, độc lập, tự tin và có định hướng mục tiêu. Hoạt động tự định hướng học tập cũng đòi hỏi ở giảng viên năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức, quản lí để có thể hướng dẫn sinh viên học tập đạt mục tiêu giáo dục.
Việc sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, như là một phương tiện giao tiếp hàng ngày được xem là một nhu cầu cần thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng, khảo sát việc sử dụng tiếng Anh cho thấy hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ này còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường trung học nói chung hay bậc Trung học Cơ sở (THCS) nói riêng là một nhu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM).
Vật lí (VL) là môn khoa học thực nghiệm. Để dạy giỏi môn VL, người giáo viên không chỉ cần hiểu biết sâu sắc lí thuyết mà còn phải có năng lực giảng dạy thực nghiệm. Vì vậy việc bồi dưỡng, rèn luyện và phát triển ở sinh viên ngành sư phạm VL những kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm VL phục vụ tốt cho việc giảng dạy sau này là một nhân tố mang tính chất quyết định. Bài báo xin đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng năng lực giảng dạy thực nghiệm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng dạy học VL ở nhà trường phổ thông sau này.
Trong việc giảng dạy môn toán, khi bàn về sự quá tải chúng ta thường đề cập đến chương trình, sách giáo khoa và áp lực thi cử. Tuy nhiên, có một yếu tố khác ít được lưu tâm đến cũng góp phần tạo ra sự tăng tải và áp lực cho học sinh, đó là sự khác biệt giữa thầy và trò.
Bài viết đề cập đến việc xây dựng và thử nghiệm bộ công cụ nhằm đánh giá các tố chất cơ bản cần có của sinh viên (SV) vào học sư phạm để họ có thể thành công trong hoạt động nghề nghiệp sau này. Bộ công cụ được hình thành dựa trên việc vận dụng những trắc nghiệm về khí chất, giao tiếp, đánh giá trí nhớ và óc quan sát, đánh giá khả năng chú ý, đồng thời tự xây dựng các trắc nghiệm về định hướng giá trị và các phẩm chất đạo đức cơ bản phù hợp với nghề giáo viên (GV). Bộ công cụ đã được thử nghiệm trên 44 sinh viên năm thứ nhất của khoa Hoá, Đại học Sư phạm Hà Nội  với mục đích đánh giá độ tin cậy và độ hiệu lực của công cụ tự xây dựng và đánh giá sự phù hợp của công cụ vận dụng để đánh giá tố chất cần có của SV sư phạm. Kết quả thử nghiệm đã cho phép tin rằng có thể sử dụng bộ công cụ này để tư vấn và tuyển chọn sinh viên muốn vào học sư phạm, đồng thời qua thử nghiệm công cụ còn cho thấy có tỉ lệ đáng kể sinh viên đang học sư phạm không phù hợp với nghề này.
Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính là chương trình hướng dẫn phụ huynh có con bị khiếm thính, giúp họ biết cách trực tiếp giúp đỡ con mình phát triển khả năng giao tiếp, khả năng nghe và nói ngay từ khi còn nhỏ. Đây là lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật mới ở nước ta, vì thế trong thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Bài viết trình bày những biện pháp nhằm đảm bảo, hiệu quả công tác can thiệp sớm cho  trẻ khiếm thính.
Nội dung bài viết muốn nhấn mạnh một trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông trong xu thế của giáo dục hiện nay, đó chính là việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ( HĐGDNGLL).
1. Bài viết đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông, những hạn chế về thời lượng và những bất cập về nội dung của chương trình hiện nay.
2. Từ những bất cập nêu trên tác giả bài viết đề xuất xây dựng khung chương trình về nội dung bồi dưỡng, tu nghiệp cho  giáo viên hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường phổ thông.
Bài viết đề cập đến những mặt được và những rào cản trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy hoc ở trường THPT. Đồng thời, tác giả đã trình bày và phân tích  những tác động của đổi mới giáo dục THPT đến cách dạy và cách học trong thực tiễn.

Bất cứ sự lựa chọn giá trị đạo đức - nhân văn nào cũng đều dựa trên những nhu cầu của cá nhân. Sự lựa chọn các giá trị đạo đức - nhân văn của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nghiên cứu trên 874 sinh viên ở các trường Đại học tại TP.HCM, theo nguyên tắc chọn mẫu phân tầng cho thấy yếu tố nổi bật nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn các giá trị đạo đức - nhân văn của sinh viên là yếu tố sức khoẻ thể chất, kế đến là yếu tố sức khoẻ tinh thần và những mối quan hệ xung quanh. Hai nhóm yếu tố còn lại là trách nhiệm xã hội và vật chất cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn của sinh viên nhưng chỉ trên mức trung bình.

Qua thực tế dạy học và những đánh giá của các chuyên gia giáo dục, bài viết phân tích một số khó khăn của sinh viên sư phạm trong quá trình làm việc với bộ sách giáo khoa (SGK) môn toán Trung học Cơ sở (THCS), từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể trong việc tổ chức các hoạt động giúp sinh viên có được kiến thức sâu rộng, những kĩ năng cần thiết để họ tự tin bước vào nghề. Các giải pháp đó bước đầu thu được những thành quả đáng khích lệ ở trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang.
Xuất phát từ quan điểm: “Phát huy tính tích cực của người học là một trong những phương pháp quan trọng” đã từng được nhiều danh sư sử dụng để truyền đạo cho học trò, tác giả khẳng định đây cũng là một phương pháp cần được áp dụng trong dạy - học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả đã đi sâu phân tích một số đặc điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh để khẳng định rằng, sự cần thiết phải áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực của người học là do chính đối tượng của môn học - tư tưởng Hồ Chí Minh - qui định. Để áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực của người học trong dạy - học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả cũng đã bàn về những phẩm chất cần có của giảng viên, về thái độ và cung cách ứng xử của giảng viên với sinh viên và về những học liệu cơ bản hỗ trợ cho phương pháp này.
Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại. Ngày nay, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là nhu cầu cấp thiết. Với môn Lịch sử, việc ứng dụng NCTT vào dạy học lại càng cần thiết hơn vì nó giúp giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều nguồn tư liệu khác nhau để học sinh tự tìm ra tri thức cho bản thân và cũng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Nếu sử dụng tốt, CNTT sẽ giúp nâng chất lượng giáo dục Việt Nam lên một tầm cao mới.
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về khái niệm thao tác so sánh, mối quan hệ giữa thao tác so sánh với các thao tác trí tuệ khác và tiến trình so sánh trong quá trình phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi. Kết quả nghiên cứu này góp phần giúp giáo viên mầm non hiểu được các bước của tiến trình so sánh từ đó vận dụng vào việc phát triển thao tác so sánh cho trẻ 5-6 tuổi.
Giáo dục vì sự Bền vững (GDBV) là một khái niệm gắn liền với Phát triển bền vững. Đây không những là một nội dung mà còn là một yêu cầu trong giáo dục, khi mà ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên không chỉ gây nguy hại đến con người và thiên nhiên, mà còn làm tổn thất đến thế hệ tương lai.
Phản ánh các đặc điểm đặc thù của nền văn minh toàn thế giới hiện đại, định hướng vào con người như giá trị và mục đích tối cao của tiến trình lịch sử toàn thế giới, vào các giá trị nhân văn chung nhân loại như định hướng chủ đạo trong hợp tác nhằm giải quyết những vấn đề toàn cầu, ý thức nhân văn toàn cầu cũng còn bao hàm trong mình các giá trị văn hoá nhân văn của dân tộc như là tiền đề tinh thần để mỗi dân tộc "gia nhập ngôi nhà chung". Ý thức nhân văn toàn cầu giữ một vai trò to lớn trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu. Chính vì vậy mà việc hình thành ý thức nhân văn toàn cầu đang là một vấn đề toàn cầu thật sự cấp bách.
Mỗi hệ thống đều có cái huyệt, chỉ khi bấm huyệt hệ thống mới vận động và phát triển. Vậy huyệt của giáo dục Việt Nam hiện nay là gì? Vấn đề này được giải quyết bắt đầu từ sự nghiên cứu bản chất quá trình giáo dục“Cấu trúc quản lý thuộc tính…”, nghiên cứu thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những vấn đề không hợp qui luật, nêu lên những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu:
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, con đường cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học là đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, phương pháp giáo dục đại học ở nước ta hiện nay đang còn nhiều hạn chế bởi việc hình thành kỹ năng xã hội và việc giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong giáo dục hội nhập chưa được định hình một cách cụ thể. Bài báo này sẽ xác định nhu cầu tăng cường khả năng tự nghiên cứu của sinh viên qua việc hướng dẫn họ làm việc với phương pháp cùng tham gia.
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về khái niệm kĩ năng giải quyết tình huống quản lí và các kĩ năng bộ phận của nó. Kết quả nghiên cứu này góp phần xây dựng cơ sở lí luận cho việc vạch ra nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng kĩ  năng này ở các cán bộ quản lí đương chức và kế cận.
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta. Đây cũng là vấn đề cấp bách mà toàn ngành giáo dục xem là phương châm để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Hiện nay, trong việc đổi mới giáo dục đại học thì việc đổi mới PPDH có ý nghĩa thực tiễn, thiết thực. Trong hoạt động dạy học, vấn đề đặt ra về lí luận cũng như thực tiễn là cần xem xét mối quan hệ thầy trò, dạy-học; đây là hai nhân tố quan trọng trong quá trình dạy học (QTDH) làm nên chất lượng, hiệu quả của dạy học.

Bài báo này đề cập đến bảy kĩ năng giao tiếp mà sinh viên cần phải trang bị ngay khi còn ở trong môi trường đại học đó là: 1. Kĩ năng hòa nhập với cộng đồng; 2. Kĩ năng quản lý sự nhận thức của bản thân; 3. Kĩ năng lựa chọn lựa ngôn từ  và điều chỉnh giọng nói; 4. Kĩ năng giao tiếp phi ngôn ngữ;  5. Kĩ năng lắng nghe; 6. Kĩ năng thấu hiểu sự khác biệt và giải quyết những xung đột; 7. Kĩ năng trình bày. Việc có được bảy kĩ năng này sẽ giúp sinh viên tự tin khẳng định vị trí của mình trong giao tiếp với mọi người đồng thời cũng có nghĩa là tạo dựng nên hình ảnh đẹp về người sinh viên trong xã hội ngày nay,  là những con người có lối sống lành mạnh, sống có ý nghĩa.

Khoa Thư viện Thông tin Trường Đại học Sài Gòn đã thiết kế một chương trình đào tạo ngành Thư viện Thông tin hoàn toàn đổi mới đã được Bộ Giáo dục – Đào tạo phê duyệt vào năm 2007. Chương trình đang được đưa vào giảng dạy thành công với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực vừa đáp ứng nhu cầu vừa làm thay đổi nhu cầu Ngành thư viện thông tin Việt Nam.
Trong bài báo này, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc đào tạo Luật, đặc biệt là Luật Kinh doanh trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực ở Việt Nam. Thông qua việc phân biệt sự khác nhau giữa chuyên ngành Luật Kinh doanh và Luật Thương mại với Luật Kinh tế trong Khoa học pháp lí, tác giả đã đề xuất một phác thảo mới cho chương trình đào tạo cử nhân Luật tại Trường Đại học Sài gòn.
Bài viết đề cập sự ra đời của ngành Việt Nam học (Văn hóa – Du lịch) trong xu thế phát triển chung của Trường Đại học Sài Gòn. Trong những bước đi ban đầu, tuy đội ngũ cán bộ - giảng viên còn ít, nhưng đã từng bước vươn lên để hoàn thiện và khẳng định sự phát triển của Khoa đáp ứng nhu cầu của thực tiễn xã hội.

Trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Trường Đại học Sài Gòn đã xem hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu để nâng cao chất lượng hoạt động về mọi phương diện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Đặc biệt năm 2009 là năm giáo dục đại học Việt Nam phải có một bước chuyển mới có ý nghĩa quyết định, vì theo Hiệp định GATS(General Agreement on Trade in Services), ngày 1-1-2009 là thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa hoàn toàn cho các cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn nước ngoài hoạt động trong nước.

Bô môn Kinh tế gia đình ở Trường Đại học Sài gòn từ lâu có thế mạnh về đào tạo giáo viên Kinh tế gia đình (KTGĐ)cho các trường Trung học cơ sở (THCS). Tuy nhiên những năm gần đây, số lượng tuyển sinh ngày càng thấp mặc dù các nội dung đào tạo chuyên ngành KTGĐ là những nội dung thiết thực, mang ý nghĩa xã hội lớn.
Thương hiệu là một khái niệm đã trở nên phổ biến và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong rất nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội ngày nay, trong đó có lĩnh vực giáo dục đại học. Bài viết đóng góp ý kiến cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu trường Đại học Sài Gòn một cách bền vững trong điều kiện các nguồn lực của Trường còn hạn chế thông qua hai công cụ Marketing và PR (Quan hệ công chúng).